Công Dụng Chữa Bệnh


    RONG SỤN – RAU CÂU CHÂN VỊT

I. Tên khoa học: Kappaphicus alvarezii thuộc ngành rong đỏ (Rhodophyta)


II. Tên thương mại: Cottonii – Kí hiệu: KA


III. Thành phần Carrageenan trong rong sụn (rau cau chân vịt ): Rong sụn có thành phần chủ yếu là carrageenan chiếm 40% - 55% trọng lượng rong khô.


IV. Giá trị thành phần dinh dưỡng của rong sụn:

Rong sụn rất giàu dưỡng  chất 

 1. Prôtêin (Đạm):

Hàm lượng prôtêin của rong sụn dao động trong khoảng 5 - 22% (theo viện nghiên cứu Nha Trang ). Hàm lượng prôtêin của rong sụn giao động với biên độ khá lớn phụ thuộc giai đoạn sinh trưởng, vị trí địa lý, môi trường sống.

Theo nghiên cứu hàm lượng prôtêin tăng dần theo thời gian sinh trưởng và đạt giá trị cực đại ở giai đoạn sinh sản.


2. Lipid:

Hàm lượng lipid trong rong sụn không đáng kể nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng mùi tanh của rong là do lipid gây ra.


3. Sắc tố:

 Trong rong sụn có chứa một số sắc tố như sắc tố vàng (xanfoful), sắc tố xanh lam (phycoxfanyn), sắc tố diệp lục tố (chlorofil).Sắc tố của rong sụn kém bền hơn sắc tố của các loại rong khác, vì vậy loài rong này có thể được tẩy màu bằng phương pháp tự nhiên là phơi nắng.


4. Nước:

Hàm lượng nước chiếm 77 - 91%, hàm lượng nước giảm theo thời gian sinh trưởng, ở giai đoạn tích luỹ chất dinh dưỡng, hàm lượng nước đạt 79 %.


5. Nguyên tố vi lượng: Cây rong sụn chứa đến trên 20 loại nguyên tố vi lượng hữu ích như: Sắt, đồng, kẽm, florua, mangan, niken, coban.


6. Axit amin: 13-20 loại axit amin tự do - trong đó có nhiều loại cần thiết cho cơ thể con người.


7. Chất khoáng đa lượng: Natri; can xi - hàm lượng canxi cao gấp 3 lần so với sữa bò, ma giê; kali;clo; sulphur và phốt pho.


8. Chất xơ: Rong biển nói chung và rong sụn nói riêng có chất xơ trong đó nổi bật là iốt ( yếu tố vi lượng tối cần thiết cho tuyến giáp); hàm lượng iode trong rong sụn cao hơn so với các thực phẩm khác, kể cả các thực phẩm có nguồn gốc từ biển


9. Vitamin: Chứa nhiều loại vitamin như A, B1, B2, B6, C,  D, E…

Hàm lượng vitamin A trong rong sụn cao gấp 2 - 3 lần so với cà  rốt, gấp 10 lần trong bơ, vitamin B2 cao gấp 7 lần trong trứng, vitamin C, E cao gấp nhiều lần trong rau quả. 


V. Điều kiện sinh trưởng và phát triển cây rong sụn:

- Rong sụn là loài rong ưa mặn chỉ sinh trưởng và phát triển tốt ở vùng nước thường xuyên trao đổi và luân chuyển (tạo ra do dòng chảy, dòng triều hay sóng bề mặt) có độ mặn cao (28 -32 phần ngàn), ở độ mặn thấp (18-20 phần ngàn) rong sụn chỉ có thể tồn tại trong thời gian ngắn (5-7 ngày) và nếu kéo dài nhiều ngày rong sẽ ngừng phát triển và dẫn đến tàn lụi.

- Nhiệt độ thích hợp nhất để rong sụn sinh trưởng và phát triển là25 -28 độ C. Nhiệt độ cao hơn 30 độ C và thấp hơn 20 độ C sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của rong, nếu nhiệt độ thấp hơn từ 15 -18 độ C rong ngừng phát triển.


VI. Tác dụng của rong sụn:

- Rong sụn rất cần thiết và bổ dưỡng đối với con người.

- Rong sụn là một loại Polysacharide có tính nhũ hóa cao, có thể giải độc, chữa các bệnh mãn tính, làm nguyên liệu keo…

- Một trong những bí quyết sống lâu của người Nhật là tập quán ăn rất nhiều rong biển.

- Rong sụn còn có tác dụng nhuận trường, hấp thu các chất độc hại trong cơ thể con người (đặc biệt là các kim loại nặng, các chất phóng xạ như chì, thạch tín...) và được thải ra ngoài qua đường bài tiết. Vì vậy, rong biển nói chung và rong sụn nói riêng không chỉ là nguồn thực phẩm phòng chống suy dinh dưỡng, bướu cổ cho đồng bào vùng cao mà còn rất cần cho người dân ở các đô thị, khu công nghiệp.

- Trong y, dược học: chống kháng bổ trợ, hạn chế phát triển huyết khối, chống đông tụ, hạn chế u xơ, chống xơ vữa động mạch, ức chế hoạt động của virus, ức chế sự phát triển của HIV và herpes, đặc biệt là ức chế papillomavirus – virus gây ung thư buồng trứng. Đối với bệnh tiểu đường, Carrageenan có thể hấp thụ nước và làm chậm lại sự rỗng của dạ dày, do đó làm giảm độ nguy hiểm do tăng lượng đường trong máu xảy ra ngay sau bữa ăn..


 (Theo cuốn: “Carrageenan từ rong biển – Sản xuất và Ứng dụng” của các tác giả: Trần Đình Toại, Nguyễn Xuân Nguyên, Phạm Hồng Hải, Nguyễn Bích Thùy, Trần Thị Hồng do Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật ấn hành năm 2006)

Comments